Wed, 05 / 2017 10:13 am | Thiện Hưng

   Đến Huế nhiều lần rồi nên chuyến này không chuẩn bị đi, nhưng do dự mãi vì cái lời rủ rê “Lòng đã hẹn thề sao chưa về thăm Huế người ơi?…” Chúng con đặt chân đến Huế trong màn mưa lất phất một sớm mùa hạ. Tiết trời hanh khô, mây bay lơ lửng, những cơn gió se se thổi mát lòng người. Bước lên xe ở sân bay Phú Bài, chúng con chắp tay chào người Thầy giản dị với tiếng nói trầm ấm quen thuộc: A Di Đà Phật, hôm nay chúng ta sẽ đến trao một ngôi nhà tình thương sau đó về khách sạn nhận phòng. Chiều nay chúng ta sẽ đi tham quan thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã. Quý vị đã dùng sáng chưa?” Cả đoàn nhao nhao “Dạ chưa ạ”. Sư phụ mỉm cười: “Vậy thì mình dùng sáng rồi mới nhận phòng”. Thầy Thích Tâm Hải khẽ thưa: “Dạ, chúng con xin thỉnh Thầy và đoàn về chùa dùng cơm trưa. Sư phụ hóm hỉnh: “Lúc đó ăn sáng là thành ăn trưa rồi còn gì nữa thầy. Thôi cả đoàn mình ăn khoai đi nha, các chú ở chùa nấu cho Sư phụ mang theo đó”. Cả đoàn cười hoan hỷ với cái hóm hỉnh của Sư phụ. Khoai ngọt lắm!

   Đoàn đến khu 2, thị trấn Phú Bài cách sân bay không xa, cô Diệu Liên là người đã đi khảo sát gia đình này nên chỉ dẫn đoàn đến. Gia đình anh Từ Sơn Hải 54 tuổi và chị Huỳnh Thị Lan được cất lại một căn nhà rất khang trang, rộng rãi. Khi đoàn đến, chúng tôi nhìn thấy một dáng người phụ nữ nhỏ nhắn tất tả ôm mớ rau muống vừa cắt ngoài đồng chạy vội về. Hỏi thăm thì được biết mỗi ngày chị Lan dậy từ 4 giờ sáng ra ruộng cắt rau kịp bán ở chợ sớm. Anh Hải vốn là bộ đội xuất ngũ về làm thuê. Sư phụ rất tinh ý, đoán biết anh có tính nát rượu nên gọi 2 vợ chồng đến hỏi thăm và khuyên nhũ anh Hải bỏ rượu chè, đừng bê tha mà chăm lo yêu thương vợ con. Anh Hải lắng nghe và hứa sẽ từ bỏ rượu, có trách nhiệm với gia đình. Dường như được cởi mở những uất ức nhẫn nhịn từ lâu trên gương mặt sạm nắng của chị Lan, 2 hàng nước mắt khẽ rơi. Phận gái 12 bến nước trong nhờ đục chịu, và có lẽ, những cam chịu của chị Lan đã được bù đắp phần nào với căn nhà mới và lời dạy ân cần của Sư phụ dành cho 2 vợ chồng.

   Trên đường ra ngõ, thấy một o lưng đeo bình xịt thuốc, chân mang ủng đang kéo trâu bên đụn rơm, Sư phụ ghé vào hỏi thăm. O có 2 người con, một đứa con gái đang học ở Đà Nẵng, đứa con trai lớn thì ở nhà phụ đồng áng vì không thể nuôi cả 2 đứa cùng đi học. Trên gương mặt của Sư phụ thoáng chút thương cảm. Sư phụ động viên o rằng: “có sức khoẻ làm lụng vẫn tốt hơn nhiều người nằm bệnh một chỗ, con cố gắng giữ sức khoẻ chăm lo dạy dỗ con cái.” Sư phụ quay sang nói cô Diệu Mỹ biếu quà cho o, cầm tịnh tài giữa muôn trùng xúc cảm với những người chưa từng quen, o khóc như lâu rồi mới nhận được sự đồng cảm. Đoàn lên xe ra về còn vương vấn cảnh bần hàn của một gia đình nhỏ bên đụn rơm và con trâu lẻ loi giữa đất trời u tịch của một vùng quê.

   12 giờ trưa, mọi người đều có mặt ở tiền sảnh lên xe đến chùa Hiếu Quang. Ôn trụ trì, Hòa thượng Thích Quang Nhuận đang đợi cả đoàn dùng cơm trưa. Đảnh lễ Tam bảo xong thì đoàn xuống đảnh lễ Ôn. Ôn dạo này trông rất khoẻ, vẻ mặt hồng hào đầy đặn và tươi tắn lắm. Sư phụ thưa chuyện với Ôn rất lâu. Nhìn Sư phụ thưa chuyện với Ôn chúng con bất chợt nhớ về Sư ông viện chủ Viện Chuyên Tu. Phật tử ngồi 2 bên và xuống dọn cơm trưa. Ôn quan sát rồi quay ra hỏi “Con nhỏ chóp bóng rồi?” Ôn đặt biệt danh cho con thế này thì chết con rồi, cả đời con chỉ “chóp” được “bóng” thôi sao, tội con lắm Ôn ơi! Nhưng được Ôn hỏi đến là con vui lắm rồi. Cơm trưa ở chùa Hiếu Quang lúc nào cũng ngon: bánh lọc, nấm kho, gỏi mít, canh khổ qua (mướp đắng), chè thưng. Món nào cũng ngon hết. Ôn còn sợ Phật tử ăn không no nên quay sang hỏi ăn no chưa, rồi đưa dĩa bánh trên bàn sang bảo “ngon lắm, ăn thêm đi”. Chúng con cám ơn Ôn nhiều lắm. Lần nào ra Huế cũng được Ôn chăm sóc, cả đoàn chúng con ai cũng cảm tạ thâm ân của Ôn lúc nào cũng sẵn lòng làm chỗ dựa cho thầy trò Viện Chuyên Tu chúng con trong các Phật sự.

   Đoàn bắt đầu đi tham quan thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, trên đường đi qua những mảnh đất khô cằn oằn mình với nắng mưa Miền Trung, người dân nơi này chắc hẳn rất khổ cực với thời tiết khác nghiệt khi nguồn sống dựa vào nghề nông là chính. Đường lên thiền viện chập chùng núi rừng, mây bay lơ lửng phủ kín các đỉnh núi trước mặt làm cho chúng con có cảm giác như sắp chạm đến tận mây trời.

   Để đến thiền viện phải đi bằng đò, đứng bên bờ này, Sư phụ bất chợt kêu lớn “gọi đò ơi đi”. Mọi người rất vui khi ngay lúc đó anh Quí “bí đao” cất giọng hát ngọt ngào hơn cả ca sĩ Dương Ngọc Thái: “Gọi đò ơi! Ai giúp đưa tôi kịp sang đò? Bên kia sông  này, người ta  đang tưng bừng đón  dâu. Gọi đò  ơi! Cớ sao  không có ai đưa  đò, để con đò buồn hiu quạnh bến  quê. Chẳng còn  ai nhớ mong mình về.” Ai cũng cười, chỉ có Sư phụ sao thấy dào dào nhìn ra mặt hồ phẳng lặng mênh mông như cảm được thân phận người gọi đò đơn độc trên bến sông. Người ngẩng lên nhìn áng mây đậu bồng bềnh trên ngọn núi, miệng lẩm nhẩm đọc “Ngồi buồn nhìn lại mây trắng bay, mây cách ngăn đời ta, mây trông chờ… Mây bay bay còn nhớ cánh hoa trôi, chạnh lòng ngồi giữa bao thương nhớ…”. Nghe lời câu nói man mác buồn cũng gợi nhiều suy nghĩ, về truy tìm trên mạng mới biết Sư phụ hát đoạn tâm sự của tiểu thơ Thủy Cúc với thượng tướng Nguyên Bá sau khi lên núi Triều Vân thăm thái tử Ngũ Châu trong vở cải lương Đường gươm Nguyên Bá. Trời đất, âm nhạc dân gian vẫn là thứ đi sâu vào lòng Người từ mái nhà xưa của miền quê Châu Đốc.

   Phong cảnh rất đẹp, mặt nước phẳng lặng trong xanh, mây trắng bay là đà quanh đỉnh núi, hiển hiện là tượng Phật niêm hoa vi tiếu uy nghiêm giữa núi rừng. Có một khúc gỗ mục bên bờ, chúng con chợt nhớ bài giảng “Khúc gỗ trôi sông” với lời Thế Tôn đã dạy trong Kinh Tăng nhất A-hàm:
“Đức Phật bảo:Ví như khúc gỗ kia, không mắc kẹt bờ bên này hay bên kia, cũng không chìm giữa dòng hay trôi tấp trên bờ, không bị người vớt lên, lại chẳng bị phi nhơn vớt lên, lại không bị nước cuốn xoáy, cũng không bị mục nát. Nó sẽ dần dần trôi đến biển cả. Vì sao? Biển là cội nguồn của các sông.

Tỳ-kheo, các Thầy cũng lại như thế. Nếu như các Thầy không mắc kẹt ở bờ bên này hay bờ bên kia, không chìm giữa dòng, lại không nằm trên bờ, không bị người hay phi nhân nắm giữ, cũng không bị nước cuốn xoáy, cũng không mục nát, các Thầy sẽ dần dần đến Niết-bàn. Vì sao? Niết-bàn có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh phương tiện, Chánh niệm, Chánh định, là nguồn cội của Niết-bàn.

Có một Tỳ-kheo khác bạch Phật:
– Thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là kẹt trên bờ? Thế nào là không bị người hay phi nhân nắm bắt? Thế nào là không bị nước cuốn xoáy? Thế nào là không mục nát?

Phật dạy:
– Tỳ-kheo
! Bờ bên này là thân mình, bờ bên kia là thân diệt hoại. Chìm giữa dòng là dục ái. Tấp trên bờ là ngũ dục. Bị người nắm bắt là: như có người hào tộc phát thệ nguyện rằng: ‘Nguyện đem công đức phước báu này để được làm vua, hay làm đại thần’. Bị phi nhơn nắm bắt là: như có Tỳ-kheo thệ nguyện như vầy: ‘Sanh trong cõi Tứ thiên vương mà hành Phạm hạnh. Nay ta đem công đức này để sanh cõi Trời’. Đây gọi là bị phi nhơn nắm bắt. Bị nước cuốn xoáy là những điều tà nghi. Mục nát là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định. Đó là mục nát vậy.”

   Đúng là hàng Phật tử chúng con vẫn còn đang mắc kẹt trong ngũ dục. Thấy đó, hiểu đó, nhưng thực hành được bao nhiêu thì chỉ bản thân mình tự biết rõ. Qua đò rồi có xe rước đoàn lên chùa đảnh lễ Tam bảo. Thầy Trụ trì – Thượng tọa Thích Tâm Hạnh tiếp đón và dẫn cả đoàn lên chánh điện lễ Phật, sau đó Thầy tri khách hướng dẫn đi tham quan các khu vực của thiền viện. Tất cả công trình ở đây đều do chư Tăng tự tay đào đất, xây dựng, tạc tượng… Điều này làm chúng con cảm phục vô cùng. Phải tốn biết bao nhiêu công sức làm mọi thứ để vận chuyển vật liệu, đào đất, xếp từng viên gạch,… mới tạo nên ngôi phạm vũ huy hoàng này. Ngôi chùa lại được giữ sạch sẽ, khép mình tĩnh lặng giữa núi rừng. Cảm giác yên bình thanh thản xâm chiếm cả tâm hồn tự lúc nào.

   Đang đi, Sư phụ chợt cuối xuống nhặt một vật gì đó, thì ra là một xác bướm trắng. Chẳng biết Sư phụ có niệm chú vãng sanh hay không nhưng nhìn cách Sư phụ nâng xác bướm trên tay như thể nâng niu một sinh linh bé bỏng tiễn đưa về nơi an nghỉ. Sao mà từ bi quá đỗi!

Bướm tàn hơi qua ngày tháng gió mưa
Thân để lại kiếp vô thường mỏnh mảnh
Gió thì thầm, buông trần gian mộng
Giữ được gì giữa thế giới tử sanh?

   Rời thiền viện là lúc trời chập tối, trên xe, cả đoàn ai cũng rôm rả với những điều nghi hoặc bấy lâu giờ có lúc được Sư phụ giải nghi. Lúc thì bàn luận “Lời Phật dạy về những loại người nên tránh xa” đăng trên mạng, có thực sự là lời của Đức Phật dạy hay không; lúc thì trầm ngâm với “ta phải giận với cái giận của đại sĩ” với những chúng sanh tàn ác… Tất cả được Sư phụ giải đáp rất thuyết phục.

   Đoàn ghé quán chay Liên Hoa dùng cơm tối rồi về lại khách sạn nghỉ ngơi. Chuyến đi có Bà bảy “Hội đồng”, hễ mỗi lần xe dừng là bị kêu “Quí, ẳm Bà bảy xuống đi con.” Thế là anh Quí hết dìu mẫu hậu Bà Bảy, đến hoàng thượng Thiện Vân rồi cách cách Diệu Hồng. Thực ra là 3 vị này lớn tuổi, mới mổ xong và bị đau chân khớp nặng nên mới được “chăm sóc đặc biệt” như thế thôi. Chỉ là một cách nói nhưng có thể đem lại niềm vui cho người khác thì có gì phải ngần ngại. Cả đoàn ai cũng cười vui vẻ kết thúc một ngày an lạc.

   Gió thổi mát dịu, màn đêm buông dần, phố Huế nhẹ chìm trong tiếng hát vẳng lên từ bờ sông Hương lững lờ …

Diệu Thanh,
Theo bước chân Thầy
Cố đô Huế, ngày 25/5/2017


Bài viết cùng chuyên mục