Sun, 06 / 2017 1:04 pm | Thiện Hưng

         Hôm nay là ngày cuối cùng ở Huế! Khách sạn có phần ưu ái chuẩn bị phần chay cho cả đoàn trong một khuôn viên tao nhã, Thầy trò thưởng thức xong thì chuẩn bị hành trình ven sông Hương – ví như một dải lụa mềm mại uốn quanh chân núi mang theo hương thơm thảm mộc ngang qua Huế xuôi ra biển Thuận An, Lăng Cô bao la. Điểm đầu tiên đoàn viếng thăm là chùa Thiên Mụ.

Thiên Mụ chuông tan hồn lạc xứ
Ngự Bình núi ngả bóng kêu sương.

         Ngôi chùa Thiên Mụ tọa lạc trên một ngọn đồi thoải Hà Khê bên cạnh dòng Hương giang với những chiếc thuyền con chầm chậm xuôi ngược. Hiện nay ngôi chùa Thiên Mụ cổ kính thâm nghiêm này còn lưu giữ triển lãm chiếc xe di vật của Bồ-tát Thích Quảng Đức bên cạnh tiểu cảnh non bộ rất thiền vị. Chùa Thiên Mụ được chúa Nguyễn Hoàng tạo lập và được chúa Nguyễn Phúc Chu đúc đại hồng chung xây dựng lại quy mô. Ngay cổng chùa là tháp Phước Duyên 7 tầng được vua Thiệu Trị cho xây dựng nhân dịp mừng lễ thọ của bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu.

         Theo thói quen, Sư phụ thường đọc rất kỹ nội dung khắc trên các bia đá để biết những công ơn của những vị Tổ khai sơn, và sự kiện lịch sử tại ngôi chùa. Sư phụ có chút trầm tư ngồi nhìn tháp Phước Duyên như thể cảm nhận những biến đổi thăng trầm qua gió bụi thời gian. Dù trải qua vô số phong ba bão táp theo dòng lịch sử, ngôi tháp vẫn trầm lặng hiên ngang trên ngọn đồi hướng ra dòng sông thướt tha uốn lượn, chuông chùa vẫn ngân vang từng hồi giữa gió lộng mây ngàn. Rảo dọc bờ sông Hương đón những cơn gió mát dịu rồi tiếp tục hành trình.

Người xuôi nẻo bước thoả mong chờ
Thuyền giữa dòng trôi cảnh rất thơ
Thiên Mụ chuông ngân trong gió lộng
Sông Hương sóng gợn dưới mây mờ.

(Mỹ Linh)

         Xuôi theo bờ sông Hương, đoàn lên tu viện Huyền Không Sơn Thượng. Chùa nằm trong một khu rừng thông tịch mịch vùng núi Hòn Vượn được Hoà thượng Giới Đức khai sơn. Hoà thượng có bút hiệu Minh Đức Triều Tâm Ảnh là một vị thiền sư nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp, là nhà thơ am tường hội họa, mỹ thuật và cũng là “cao thủ” cờ tướng. Những tác phẩm của Hoà thượng không những có giá trị cho nền văn hoá Phật giáo mà còn đóng góp rất nhiều cho nền văn học Việt Nam thời cận đại. Nghe Sư phụ kể, ngày trước khi Sư phụ đến đây, Hoà thượng còn ở trong một am tranh, ngồi viết chữ với ánh nắng xuyên qua kẽ lá rọi xuống gian thảo am nhỏ. Phong cảnh nên thơ ấy rất huyền ảo. Đến đây hoàn toàn cảm nhận được thiên nhiên hài hoà rất tĩnh lặng đậm hương thiền:

Rừng gió vi vu rớt một tiếng chim sao tĩnh lặng.
Khóm tre xào xạc rơi vài chiếc lá động vô thanh.

         Đảnh lễ Tam bảo xong, Thầy trò bước qua cầu Giải Trần bắt ngang hồ Sơn Ảnh để đến Thư pháp đình. Không biết ai khéo đặt tên! Một mặt hồ khá rộng với nhiều hoa sen, hoa súng đủ màu sắc hồng, tím. Đặc biệt là mặt hồ được in bóng ngọn núi và rừng thông phía trên đổ xuống nên khi tất cả vật ngang qua đều để lại bóng trên mặt hồ phẳng lặng. Có lẽ vì địa thế như vậy nên hồ đặt tên là Sơn Ảnh hồ. Giải Trần Kiều bắt ngang để người bước qua rũ bỏ tất cả não phiền của trần thế lại sau lưng. Những gánh nặng trên lưng đã rơi xuống, nhìn bóng mình dưới nước chợt nhận ra đã rất lâu rồi tôi chưa tìm lại bóng tôi. Cảnh hữu tình tuyệt mỹ, nhưng chỉ bởi tâm người cảm nhận, vì thực sự ra:

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thuỷ
Nhạn vô di tích chi ý
Thuỷ vô lưu ảnh chi tâm
.
(Thiền sư Hương Hải)

         Thấp thoáng xa xa một am tranh ẩn hiện bên hàng trúc xanh biệt lập giữa mặt hồ tĩnh lặng. Cái thế giới phồn hoa náo nhiệt đã hoàn toàn bị bỏ lại ngoài kia. Niềm mong ước “chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng” chợt dâng trào. Phải chi được thả mình giữa thiên nhiên dân dã như những chiếc lá trúc khẽ đong đưa theo từng cơn gió rồi nhẹ tênh rơi xuống mặt hồ không cần biết nước cuốn đến đâu. Lòng bình yên đến lạ!

Dẫu như mây hiện giữa trời
Chút tình thiên cổ tạc lời làm vui
Mười phương thi hữu bồi hồi
Cỏ cây hoa lá nụ cười vu vơ.
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

         Thư Pháp đình đón chân người lữ khách với những bức thư họa có thể thay đổi theo mùa nhưng đều mang âm hưởng thiền vị, hồn thơ lấy tính nhân văn làm giá trị chủ đạo:

Cha cho gánh chữ ngần vai
Mẹ cho giọt nắng soải dài tuyết đông
Đường đời vút cánh chim hồng
Lối về chi sá bão
giông tình đời.

         Trưa nay, Thầy trò được sắp xếp ăn trưa tại Thư pháp đình này trước khi trở lại phố Huế. Các o Phật tử chùa Hiếu Quang chuẩn bị bữa cơm thật ngon với những món đậm đà rất Huế: vả trộn chua ngọt, mít kho lá sả, canh cải xanh với gừng, dưa cải xào và nấm kho sa tế. Thơm, cay, mồ hôi, hít hà tạo thành không khí hoan hỷ, thắm tình của buổi cơm trưa bên thềm Thư Pháp đình giữa rừng cây ngút ngàn nắng gió của non nước hữu tình xứ Huế nên thơ này.

         Phải tạm biệt thôi chốn non bồng này, rồi không biết bao giờ mới trở lại.

Ta chừ trở gót phiêu du
Thăm vườn thiền hiểu xuân thu kiếp người
Thấy hoa nguyên vẹn nụ cười
Thấy ta cát bụi phủi rơi ít nhiều
.

         Cảnh mây trắng vờn núi xanh, rừng thông quyện sen thắm, sim tím ngát sơn thôn làm chân người đi thêm quyến luyến. Sư phụ có vẻ trầm tư hơn khi một mình qua cầu Giải Trần trong nắng trưa huyền tịch của không gian u nhã không vướng bận khách trần, chỉ còn đó khách trần thong thả dạo bước để nghe đời đọng lại sau cuộc tử sinh. Hay là, khách trần ra đi biền biệt như Lưu Thần và Nguyễn Triệu ngày xưa rời khỏi động Thiên Thai không hẹn ngày tái ngộ như lời của tiên nữ Ngọc Chân trước lúc chia tay:

Hoa lưu động khẩu ưng trường tại
Thủy đáo nhân gian định bất hồi.

Nghĩa là:

Hoa nơi cửa động còn đây mãi
Suối chảy xuống núi chẳng quay đầu.

         Chuyện xưa chép rằng: Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời Hán sống ở tỉnh Triết Giang (Trung Quốc). Hai chàng say mê đi tìm cây thuốc, chẳng quản rừng sâu, núi cao, chỗ nào có cây thuốc là hai chàng đi hái. Một hôm, hai chàng tìm được cây quý, đi sâu mãi vào rừng; càng vào sâu, càng nhiều cây thuốc. Chợt trước mặt, sừng sững một quả núi, núi Thiên Thai. Cảnh đẹp vô cùng, hai chàng lững thững đi dưới chân núi, bỗng thấy một cửa động. Lưu Thần và Nguyễn Triệu nhìn nhau rồi liền bước vào. Càng vào sâu trong động, cảnh đẹp càng rực rỡ, những vườn hoa, những khu rừng thưa nắng toả, trong sáng và mát dịu. Ði một quãng, hai chàng định quay trở về nhưng lạc lối, không biết đường nào dẫn ra cửa động. Ðang lo sợ thì Lưu, Nguyễn thấy xa xa, hai thiếu nữ đi về phía mình. Các cô nhìn hai chàng, những đôi mắt sáng như màu nắng. Tiếng hai nàng thỏ thẻ: “Hai chàng đi đâu mà lạc vào chốn này?”. Hai chàng say sưa kể chuyện đi hái thuốc, lạc vào nơi kỳ lạ này. Hai chàng vừa kể vừa ngây ngất nhìn hai thiếu nữ trạc mười sáu, mười bảy tuổi, dịu dàng, e lệ mà bừng bừng sức sống. Hai nàng e thẹn nói: “Hai chàng lạc vào cõi tiên rồi, hai chàng không trở về được đâu, để thiếp đưa hai chàng ra mắt Phu nhân cai quản động tiên này, hai chàng đừng sợ. Ở đây, ai cũng rất quý người.”

        Hai chàng được dẫn đến trước một Phu nhân kiều diễm chưa từng thấy. Phu nhân bảo hai cô tiên:
– Các con đưa hai chàng về nghỉ ở phía Ðông.

        Hai nàng tiên quấn quít hai chàng trai, hai chàng mê say như ương rượu. Ít lâu sau, được phép của Phu nhân, hai chàng lấy hai chị em thiếu nữ. Ðó là hai chị em nàng tiên Ngọc Chân, tình yêu nồng thắm. Song, Lưu Thần và Nguyễn Triệu không dứt bỏ được lòng trần tục. Hai chàng nhớ nhà, nhớ quê hương, mạnh dạn bày tỏ tấm lòng với vợ và được Phu nhân cho trở về trần thế. Hai nàng tiên khóc ròng mấy hôm, vì hai nàng biết rồi đây, cuộc chia ly sẽ là vĩnh viễn. Hai chàng hẹn ngày trở lại song hai nàng tiên vẫn khóc. Sáu tháng đầy hạnh phúc không bao giờ trở lại.

        Lưu Thần, Nguyễn Triệu về đến quê thì phong cảnh đã khác xưa nhiều. Nửa năm nơi tiên giới bằng bảy thế hệ nơi trần gian. Hai chàng không quen biết một ai và không một ai biết Lưu Thần, Nguyễn Triệu. Hai chàng chán nản, quay trở lại núi Thiên Thai tìm mấy ngày chẳng thấy cửa động. Cửa động Thiên Thai đã đóng.

         … Trên xe về, trước cảnh đẹp của núi rừng phiêu lãng, lần này cả đoàn râm ran câu chuyện Thuỷ Hử với 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Một số nhân vật được Sư phụ hào hứng phân tích rất chi là thú vị. Vui nhất là Sư phụ hứa sau này trong các bài giảng sẽ có thêm những mẩu chuyện nho nhỏ về người xưa để Phật tử nghiên cứu và tìm hiểu thêm. Một ý kiến quá hay phải ủng hộ liền tay.

         Vẫn còn chưa muốn rời xa đất Thần kinh này, đoàn ghé phòng triễn lãm áo dài Huế và xem tranh thêu XQ. Đến một bức tranh 3D sắc nét, Sư phụ đưa tay như chụp con cá trong bức thêu. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Sư phụ chợt cười đầy đắc ý rồi kể câu chuyện của Mạc Đĩnh Chi. Trong lần đi sứ sang Nguyên (Trung Quốc) ông đã nhầm tưởng con chim sẻ đậu cành trúc trên bức trướng mỏng là thực nên chạy đến chụp bắt thì mới vỡ lẽ mình nhầm. Bị người Nguyên cười nhạo, Mạc Đĩnh Chi nhanh trí kéo bức trướng xuống đạp lên. Ông giải thích: Không Tử dạy: “quân tử trúc, tiểu nhân tước” nghĩa là cành trúc chỉ cho quân tử, chim sẻ là tiểu nhân. Tiểu nhân mà ở trên đầu quân tử là loạn cả quân thần, đạo lý. Chỉ sợ đạo tiểu nhân mạnh hơn đạo quân tử nên tôi trừ bọn tiểu nhân giúp quý quốc.” Và còn nhiều tài đối ứng trong những lần đi sứ, Vua tôi nhà Nguyên rất khâm phục tài của Mạc Đĩnh Chi nên tự tay hạ bút phong “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”. Sư phụ kể chuyện thì cứ như là cuốn người ta vào câu chuyện quên cả thế giới hiện tại. Các o trong hội quán cũng dừng tay thêu tranh, lắng nghe câu chuyện rồi cười e lệ – nụ cười ngọt ngào đằm thắm của người con gái Huế.

         Đến lúc phải ra sân bay về lại Sài Gòn. Chuyến đi 3 ngày nhiều kỷ niệm đã kết thúc với thành quả gặt hái là học được rất nhiều điều mới mẻ. Càng cảm thấy yêu sao non nước Việt Nam hữu tình. Nhiệt độ mấy ngày trước là hơn 400C nhưng mấy hôm nay khi đoàn ra thì thời tiết thuận hoà, mưa lất phất bay, không khí mát mẻ làm ai cũng cảm thấy nuối tiếc chân không nỡ rời bước. Sao lại lưu luyến Huế dịu dàng trầm tư này nhiều đến vậy?

         “Ơi Huế của ta… Ta có Huế ngọt ngào, còn vang tiếng ca, Huế khúc hát thanh bình. Cả nước yêu thương, ôm Huế vào lòng, sẻ chia đắng cay gian khổ mặn nồng…

         Nặng lòng với Huế. xin viết tặng bài ca. Gởi trọn tình ta về Huế thương yêu!”

Diệu Thanh,
Theo bước chân Thầy
Cố đô Huế, ngày 27/5/2017


Bài viết cùng chuyên mục